Văn phổ thông cấp 3

Anh chị hãy phân tích giá trị bản Tuyên ngôn độc lập về mặt lịch sử và nghệ thuật văn chương

Ra đời trong một bối cảnh đặc biệt, bản Tuyên ngôn độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ mang ý nghĩa lịch sử trọng đại mà còn mang chứa đựng những giá trị văn chương to lớn.

Ngày 19/8/1945, cuộc đảo chính giành lại chính quyền của nhân dân Hà Nội đã thành công. Ngày 26/6, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về từ chiến khu cách mạng Việt Bắc. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người đã đích thân soạn thảo nên bản Tuyên ngôn độc lập và đọc vang trước mắt hàng triệu đồng bào cả nước tại quảng trường Ba Đình vào ngày 2/9/1945, chính thức khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Chính bối cảnh đó là yếu tố làm nên giá trị lịch sử to lớn của bản Tuyên ngôn độc lập. Từng câu, từng chữ trong đó đều thể hiện ý chí và sức mạnh của toàn thể nhân dân Việt Nam, sức mạnh của chính nghĩa, của khát vọng tự do, độc lập chính đáng. Bản Tuyên ngôn không chỉ xóa tán chế độ phong kiến, đập tan ách đô hộ thực dân, mở ra kỷ nguyên mới độc lập, tự do cho dân tộc, mà còn là lời tuyên bố với thế giới về một nước Việt Nam độc lập, bình đẳng với mọi quốc gia khác và có chủ quyền bất khả xâm phạm.

Về mặt lịch sử, đó là một "bản tuyên ngôn", nhưng về mặt văn chương, dù được trình bày ngắn gọn (chỉ có chưa đến một nghìn chữ), đây vẫn là một tác phẩm tiêu biểu, áng văn chương mẫu mực của thể loại văn nghị luận.

Bản Tuyên ngôn độc lập này được chia làm ba phần rõ rệt và được liên kết chặt chẽ với nhau. Trong đó, phần một tập trung vào chân lý về nhân quyền và dân quyền – hai yếu tố nền tảng cho tính pháp lý của tác phẩm. Việc trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ (năm 1776) và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp (năm 1791) không chỉ là lời khẳng định sắt đá về quyền thiêng liêng của con người, mà Bác còn muốn đặt ngang hàng nước ta với các nước lớn như Pháp, Mỹ. Từ quyền con người được tuyên ngôn của các quốc gia khác đề cập, Bác khéo léo nâng lên thành triết lý về quyền dân tộc: "…tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. 

Loading...

Nếu như phần đầu Bác đã khẳng định nhân quyền bình đẳng của của mỗi người, mỗi dân tộc, thì phần thứ hai của bản Tuyên ngôn chính là bản cáo trạng cho tội ác vô nhân đạo của thực dân Pháp đối với nhân dân và đất nước ta. Hành động của chúng hoàn toàn trái ngược với tinh thần bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp, thể hiện rõ bản chất gian xảo của bọn thực dân. Bên cạnh đó, Bác cũng nếu rõ tinh thần yêu độc lập tự do, tinh thần nhân đạo và quyết tâm bảo vệ tổ quốc của toàn dân tộc. 

Phần cuối cùng, tình thần yêu nước, yêu tự do và quyết tâm đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ từng tấc đất cha ông để lại lại được lặp lại một lần nữa, đi kèm với lời tuyến bố trịnh trọng với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và thực sự đã trở thành một nước tự do độc lập”.

Có thể thấy, bản Tuyên ngôn độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh có một kết cấu hết sức chặt chẽ, lập luận logic, lý lẽ thuyết phục. Ngôn từ sắc cạnh, âm hưởng hùng hồn, nhịp điệu dồn dập, cách diễn đạt ngắn gọn nhưng súc tích, cách sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ… đã làm nên giá trị văn chương của một bản tuyên ngôn mang tính lịch sử.

Nói tóm lại, bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh vừa là một mang giá trị lịch sử to lớn, lại vừa là một áng văn chương mẫu mực của mọi thời đại. Bởi tác phẩm ấy được tạo nên từ một con người vĩ đại, được tạo nên từ xương máu của những người con anh dũng, đã sống, đã chết cho sự nghiệp độc lập tự do của toàn dân tộc Việt Nam.

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Loading...