Sunday, 7 Jun 2020
Uncategorized Văn phổ thông cấp 2

Nhân vật trữ tình trong ba bài ca dao than thân

Nhân vật trữ tình trong ba bài ca dao than thân

Hướng dẫn

Đề bài: Nhân vật trữ tình trong ba bài ca dao than thân

Bài làm

Ca dao là một phần rất quan trọng trong dân gian Việt Nam. Qua những câu ca dao, chúng ta có thể nhìn thấy cuộc đời của những trong xã hội, thấy bao tâm trạng, bao , lý tưởng, thấy được cái đẹp của biết bao hình ảnh, từ ngữ mà những người dân bình dị đã sáng tạo và gửi gắm. Ca dao Việt Nam rất phong phú, đa dạng, trong đó không thể không nhắc đến chùm ca dao than thân đã tồn tại và hiện diện từ lâu đời.

Đất nước ta đa phần làm nông, cũng vì thế mà hình ảnh người nông dân luôn gần gũi với con người và là nguồn cảm hứng cho rất nhiều sáng tác nghệ thuật. Những người nông dân có đời sống cơ cực đã đi vào ca dao dựa trên hình ảnh con cò:

Nước non lận đận một mình

Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay

Ai làm cho bể kia đầy,

Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?

Câu ca dao thật hay, thật đẹp. là người bạn ruộng đồng của nông dân, màu trắng của lông cò gợi cho ta thấy sự trong trắng, chất phác của những con người của đồng ruộng. Qua câu ca dao, ta có thể thấy sự , chịu khó là bản tính của người nông dân, đồng thời là vất vả bấp bênh. Tác giả dân gian đã sử dụng rất nhiều từ ngữ gợi hình ảnh khổ cực của người nông dân như: “ lận đận một mình”, “ lên thác xông ghềnh” và đặc biệt là từ “thân cò”. Chỉ một từ thân cò cũng làm chúng ta hình dung ra dáng hình gầy guộc, lầm lũi của một kiếp người. Nghệ thuật đối lập lên-xuống như kéo dài thêm quãng đường đời vất vả khổ cực của những người nông dân bần cùng. Câu hỏi tu từ “ Ai làm cho bể kia đầy, cho ao kia cạn, cho gầy cò con?” không chỉ là một câu hỏi đơn thuần mà nó còn là một câu thốt lên nhẹ nhàng mà cay đắng, sâu sắc. Nó như một lời tiếc thương cho số phận hẩm hiu của người nông dân-khi mà cảnh nghèo khó bần cùng bám dai dẳng theo cả những đứa “ cò con” gầy guộc. Có thể nói, câu ca dao chính là lời than thân trách phận của những người nông dân nghèo khổ trong xã hội.

Xem thêm:  Soạn văn bài: Chính tả: Nghe – viết: Mùa thảo quả

Không chỉ riêng người nông dân, trong xã hội còn rất nhiều người rơi vào hoàn cảnh nghèo khó. Họ là những người có thân phận nhỏ bé, bần hàn. Họ được ví với những con vật đáng thương trong câu ca dao:

Thương thay thân phận con tằm,

Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ.

Thương thay lũ kiến li ti,

Kiếm ăn được mấy phải đi nhả mồi.

Thương thay hạc lánh đường mây,

Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi.

Thương thay con cuốc giữa trời,

Dẫu kêu ra máu có người nào nghe.

Hình ảnh con tằm nhả tơ gợi hình ảnh những con người phải để phục vụ cho kẻ khác. Họ kiếm ăn lo cho cuộc sống của mình vẫn còn chưa đầy đủ, còn thiếu thốn nhiều mà vẫn phải bị sự chèn ép của những người có địa vị cao hơn, phải dùng công sức của mình dâng cho kẻ khác. Hình ảnh con kiến cũng mang ý nghĩa tương tự, chỉ những thân phận nhỏ bé, suốt đời làm lụng mà vẫn cực khổ. Ta có thể hình dung ra sự cực khổ, vất vả của người xưa đằng sau hình ảnh chim hạc-những cuộc đời phiêu bạt, lận đận, luôn cố gắng mà không có kết quả. Đỉnh điểm của sự đáng thương tột cùng đó chính là hình ảnh con cuốc kêu ra máu. Đó là những người bị oan trái, những lời bất bình từ những sự bất công sai trái trong xã hội, nhưng, “ có người nào nghe”. Đâu có ai thực sự lắng nghe, hiểu và cảm thông cho họ. Đâu có ai chấp nhận cho họ níu tay, giúp đỡ và dìu dắt họ qua kiếp khổ. Họ sống cô độc, lầm lũi, khổ sở và đau thương. Họ chịu uất ức, giày vò, khinh thường từ những người có thân phận lớn hơn. Có thể nói, họ nghèo, nghèo về vật chất lẫn về tinh thần. Cuộc đời họ luôn trong bóng tối mà không hề có lối ra.

Xem thêm:  Soạn văn bài: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếp theo)

Thân em như trái bần trôi

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.

được khắc họa rõ nét trong câu ca dao trên. Xã hội phong kiến thời đó rất phủ nhận vai trò của người phụ nữ. Ta đã từng nghe câu quen thuộc “trọng nam khinh nữ”. Câu ca dao trên như thể nói lên tâm tình của người phụ nữ- trôi nổi, bấp bênh, xô đẩy giữa dòng đời. Những người phụ nữ thậm chí còn không được làm chủ cuộc đời mình, không được tự mình quyết định tương lai mà bị sự quản giáo, chèn ép từ người khác. Vẻ đẹp cao quý của người phụ nữ không được nâng niu trân trọng. Họ phải gánh chịu những nghiệt ngã mà dòng đời xô đẩy “ gió dập sóng dồi” mà không biết tương lai mình sẽ ra sao “ biết tấp vào đâu”. Có thể nói rằng, tư tưởng của bài ca dao là tiếng kêu than thân đầy bi ai bất lực, là nỗi ngậm ngùi chua xót cho trong xã hội xưa.

Ta có thể dễ dàng nhận ra những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong các câu ca dao như ẩn dụ, so sánh, biện pháp đối lập,…làm tăng thêm giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật cho câu ca dao, giúp chúng trở nên dễ nhớ và sâu sắc hơn.

Những bài ca dao trên đã thể hiện tâm tư, nỗi lòng của nhân vật trữ tình- những con người nghèo khổ, cùng cực, thân phận thấp bé trong xã hội cũ. Từ đó ta có thể hiểu hơn về họ, cảm thông cho họ và trong lòng dấy lên một nỗi thương xót mỗi khi lời ca dao vang lên chầm chậm mà đi vào lòng người.

Xem thêm:  Soạn văn bài: Tổng kết phần văn học

TU KHOA TIM KIEM:

NHAN VAT TRU TINH

NHAN VAT TRU TINH QUA 3 BÀI CA DAO

BA BAI CA DAO THAN THAN

CA DAO THAN THAN

Theo Kienthucvan.com

Post Comment