Văn phổ thông cấp 3

Phân tích nhân vật Mị trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài

Phân tích nhân vật Mị trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài
Đánh giá bài viết

Đề bài: phân tích nhân vật Mị trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài

Loading...

Trên cánh đồng văn chương Việt Nam, có nhà văn độc canh bằng một loại thể. Tiêu biểu cho khuynh hướng này phải kể đến nhà văn Kim Lân – nhà văn cả đời đi về với đất, với người, với cuộc sống nông thôn thuần hậu (nói như Nguyên Hồng) lại có nhà văn thâm canh tăng vụ bằng nhiều loại thể. Tiêu biểu ta phải kể đến nhà văn Tô Hoài. Tính đến nay sự nghiệp của Tô Hoài đã già nửa thế kỉ. Ông là tác giả của khoảng trăm đầu sách, hàng nghìn bài báo với nhiều thể loại phong phú và đa dạng.

Nhưng nhắc đến Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám, người yêu văn không thể không nhắc tới “Dế mèn phiêu lưu kí”; sau Cách mạng tháng Tám với tập “Truyện Tây Bắc” gồm ba truyện ngắn: “Cứu đất cứu Mường”, “Mường Giơn giải phóng” và “Vợ chồng A Phủ”. Những năm gần đây người ta lại xôn xao nhắc đến ông với “Cát bụi chân ai” và tiểu thuyết “Ba người khác”. Đến nay “Vợ chồng A Phủ” vẫn là cái mốc thách thức của nhà văn Tô Hoài.

Truyện được giải thưởng văn nghệ 1954-1955 là một truyện ngắn xuất sắc viết về đề tài miền núi Tây Bắc. Tác phẩm được đưa vào trong chương trình giảng dạy như một kiệt tác của Tô Hoài. Truyện xoay quanh cuộc đời của người con gái Mèo nghèo khổ, xinh đẹp nết na được Tô Hoài phát hiện và thể hiện với sức sống tiềm tàng bất diệt. Đó là Mị – nhân vật chính trong tác phẩm này. Thông qua sức sống tiềm tàng của Mị, Tô Hoài bộc lộ là một nhà văn nhân đạo, nhân văn, sâu sắc và cao cả. Văn hào Nga Shê-khốp đã từng nói: “Một người nghệ sĩ chân chính phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy”. Và Tô Hoài là một nhà văn như thế.

Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” một tác phẩm văn xuôi cách mạng hay và ý nghĩa, ta thấy nổi bật lên rằng giá trị nhân đạo nhân đạo và giá trị hiện thực của thời kỳ này không chỉ dừng lại ở sự đồng cảm thương yêu con người, sự trân trọng phẩm chất tốt đẹp của con người mà các nhà văn đã có ý thức thể hiện, bộc lộ sự chống lại nguyên nhân gây nân nỗi khổ ấy. Đặc biệt, các nhà văn cách mạng đã tìm ra những giải pháp đưa con người ra khỏi bế tắc, tối tăm. Đặc biệt là đặc tả nhân vật Mị.

Mị là nhân vật tiêu biểu cho lớp phụ nữ miền núi trong chế độ cũ, Mị cũng như bao cô gái khác đã có một cuộc đời thanh xuân tươi đẹp, mị vốn là một cô gái đẹp, nghèo nhưng tài hoa, Mị thổi sáo giỏi và thổi lá cũng hay như thổi sao. Cô trở thành nỗi ao ước của biết bao nhiêu trai bản, trong chính bản thân Mị luôn khao khát một lối sống đẹp, luôn muốn được sống tự do, do chính mình tạo lập nên. Vì thế khi được biết bố gán mình cho Mết làm con dâu gạt nợ cho nhà lý Bá Tra. Mị nói rằng: “con nay đã biết cuốc nương, làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố, bố đừng bán con cho nhà giàu. Mị có một tình yêu mới chớm.Với những phẩm chất như thế đáng nhẽ Mị xứng đáng sống và hưởng một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc.

Nhưng trớ trêu thay Mị gặp một cảnh ngộ oan trái và bất hạnh. Vì món nợ truyền kiếp của gia đình, Mị đã ị bắt con và trở thành con dâu gạt nợ cho nhà Thống Lý Bá Tra. Chi tiết này lên án sâu sắc và thương cảm cho số phận người đàn bà trong xã hội cũ, đồng thời tố cáo nạn cho vay nặng lãi, một hình thức bóc lột nặng nề của bọn phong kiến miền núi. Từ đây, cuộc đời của Mị là chuỗi dài triền miên và cực nhục, vất vả và bất hạnh. Nhà văn Tô Hoài dùng những chi tiết hình ảnh chân thực, sinh động về cuộc đời tăm tối của Mị.

Mở đầu tác phẩm nhà văn đưa ta đến cảnh Mị ngồimột góc bên cạnh chuồng ngựa. chi tiết này miêu tả cuộc sống im lìm, nặng nề, tối tăm của kiếp người nô lệ, bị đọa đày, người ngồi lẫn với đá cạnh chuồng súc vật, Mị bị đặt vào cảnh sống không phải giành cho con người. nhà văn đã chú trọng để miêu tả ngoại hình, nội tâm nhân vật. chúng ta thấy lúc nào, dù đi đâu làm gì thì Mị đều cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Tác giả đã dùng hình ảnh đặc sắc để diễn tả cuộc sống vất vả, cực khổ của Mị.

Con ngựa, con trâu ngày đi làm thì cũng có lúc có thời gian để gãi đầu, gãi chân, đứng nhai cỏ. Con gái nhà này thì vùi đầu vào làm việc cả ngày lẫn đêm, không những phải lao động vất vả, suốt ngày suốt đêm, quanh năm suốt tháng, Mị còn bị A sử phũ phàng tàn bạo, hắn thường xuyên đánh Mị một cách vô cớ. Cuộc sống quá cơ cực vẫn chất, lẫn tinh thần khiến Mị không thể chịu đựng nổi, sau hai tháng làm dâu, đêm nào Mị cũng khóc, cô định tìm đến cái chết để giải thoát, tìm đến lá ngón để chết, nhưng nếu Mị chết sẽ không ai giả nợ thay cho người cha già yếu.

Mị sống và bị đành đọa đến mức tâm hồn bị tê liệt, sống mà như chết, ở lâu trong cái khổ, “Mị đã quen khổ rồi, Mị không còn buồn, còn tủi, còn đau nữa”. Mị không có ý niệm về thời gian, ở trong căn phòng tăm tối như cái nhà mồ chỉ có ô cửa sổ thấy trăng trắng, Mị không biết là sương hay là nắng, Mị không phán đoán được sớm hay trưa. Mị sống không hy vọng, không mong đợi được cái gì, suốt ngày lùi lũ như con rùa nuôi trong xó cửa, thấm chí Mị đã đồng nhất mình với con vật. Mị tưởng mình cũng là con trâu, con ngựa. Chi tiết này làm người đọc nhói lòng, đau xót.

Mị từ một cô gái đẹp, tài hoa, có sức sống về làm dâu nhà Thống Lý Bá Tra, Mị cứ mất dần dấu hiệu của con người mà rơi vào trạng thái chết ngay khi còn sống, thể xác của Mị còn nhưng tâm hồn của cô đã chết. Qua đây ta thấy ngòi bút của Tô Hoài có sức tố cáo mạnh mẽ.Từ cuộc đời

của nhân vật Mị nhà văn đã phơi bày cuộc sống bi thảm của người dân lao động miền núi dưới ách áp bức của bọn lãnh chúa phong kiến. Tác phẩm có giá trị hiện thực sâu sắc và cũng từ đây ta cảm nhận được tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Tô Hoài, nhà văn đã thấu hiểu, cảm thông và xót thương vô hạn những người dân miền núi phải chịu kiếp nô lệ, bị đọa đầy.

Mị là hiện thân cho sức sống tiềm tàng, mãnh liệt, không gì dập tắt được của người dân lao động miền núi. Sức sống tiềm tàng trong Mị chính là khát vọng sống mãnh liệt, khát vọng về một cuộc sống tự do, hạnh phúc, khát vọng ấy đã thể hiện rất rõ trong phản ứng sống nô lệ khi sống ở hồng ngài. Mị thà chết làm người, còn hơn sống kiếp súc vật, việc Mị tìm đến cách chết là thể hiện được sự cực đoan, lòng ham sống và khát khao hạnh phúc, đây cũng chính là bằng chứng cho sự nhân đao, nhân văn, Mị rơi vào tình thế oái ăm, sống không được và chết cũng chẳng xong mà đành sống như đã chết, sống câm lạng như một cái bóng.

Nhưng rồi cứ nghĩ con người Mị tưởng như câm lặng, suốt cả cuộc đời song nhà văn Tô Hoài với tấm lòng nhân đạo sâu sắc đã nhìn sâu vào trong tận cùng tâm hồn của Mị và nhận thấy ở đó tiềm ẩn một sức sống giống như 1 đốm than nhỏ bị vùi trong đám tro thì chỉ cần khơi dậy.

Ngòi bút tinh tế của nhà văn miêu tả rõ nét, thức tỉnh, trỗi dậy lòng ham sống của Mị vào đêm hội mùa xuân. Hình ảnh mùa xuân Tây Bắc được xây dựng giàu chất thơ, Tô Hoài đưa chúng ta về với Tây Bắc trong những ngày xuân rực rỡ, đầy sức sống. Mùa xuân về trên Tây Bắc trong những sắc màu rực rỡ của những chiếc váy hoa phơi trên mỏm đá, xòe ra như con bướm rực rỡ. Mùa xuân về trên những biển đổi của cây thuốc phiện về trên bản núi, tiếng reo hò của bọn trẻ và đặc biệt là tiếng thổi sáo gọi bạn tình.

Núi rừng Tây Bắc im lìm bỗng như sống lại, bừng tỉnh sau mùa đông giá lạnh. Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn Tô Hoài lại miêu tả về những biển đổi của Tây Bắc khi mùa xuân về, chính điều đó đã tạo tiền đề trong biển đổi của tâm hồn Mị, sức sống trong Mị cũng mãnh liệt giống như tạo vật, của đất trời, đến mùa xuân lại đâm chồi nảy lộc. trong không khí đất trời đầy sắc xuân Mị như sống lại từng bước, từng bước ra khỏi mùa đông băng giá của cuộc đời mình.

Nhà văn Tô Hoài đã miêu tả rõ nét từng bước thức tỉnh trong tâm hồn Mị, nghe tiếng sáo của bạn tình vọng lại Mị cảm thấy bồi hồi. một người thất bại trong tình yêu như Mị tiếng sáo gọi bạn tình có ý nghĩa rất đặc biệt, đó là những âm thanh, sức sống bấy lâu nay tưởng như tắt lịm thì nay lại trỗi dậy mạnh mẽ.

Trong đêm tình mùa xuân, sức sống ấy như ngọn lửa bùng cháy dữ dội. Khi nghe tiếng sáo vọng lại “thiết tha bổi hổi”, Mị đã sống lại những phút giây tuổi trẻ ngày nào. Đó là lúc tài năng âm nhạc trong Mị được đánh thức “Mị ngồi nhẩm thầm lời người đang thổi sáo”. Hành động ấy nói lên bao điều. Bấy lâu nay, cô Mị câm lặng, vô cảm, ấy thế mà hôm nay bỗng được sống dậy. Bài hát cũ lâu rồi không hát, điệu sáo ấy lâu rồi không thổi nhưng Mị vẫn nhớ, Mị không quên nghĩa là sức sống trong Mị chưa nguội tắt mà vẫn âm ỉ như hòn than trong lớp tro tàn.

Cũng trong đêm tình ấy, ngòi bút Tô Hoài còn chứng kiến được hình ảnh một cô Mị nổi loạn cùng men rượu cay đêm tình. Rượu đã đưa Mị từ cõi quên về với cõi nhớ, rượu và tiếng sáo ngất ngây gọi bạn tình đã làm Mị nhận ra “Mị trẻ lắm. Mẹ còn trẻ. Mị muốn đi chơi”. Khát vọng ấy, là khát vọng của con người yêu tự do, khát vọng tự do mãnh liệt. Và hành động “Mị cuốn lại tóc. Mị với tay lấy chiếc váy hoa vắt ở phía trong vách… Mị rút thêm cái áo” đã cho thấy sự bứt phá của Mị với bản năng sống mãnh liệt bất chấp cả cường quyền, thần quyền. Ngay cả khi bị A Sử trói đứng vào cột “tóc Mị xõa xuống hắn cuốn luôn tóc Mị lên cột làm cho Mị không cúi không nghiêng được đầu nữa”. Nhưng Mị vẫn thản nhiên, Mị không hề biết mình đang bị trói, thậm chí khi tiếng sáo nhập vào hồn Mị, Mị đã “vùng bước đi”. Điều đó cho thấy, sức sống tinh thần trong Mị đã lớn dậy, nó đã lấn át cả nỗi đau về thể xác. Cũng có nghĩa là bóng ma thần quyền, cường quyền đã khuất phục trước sức sống ấy của Mị.

Giá trị nghệ thuật của tác phẩm: Bên cạnh giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo, “Vợ chồng A Phủ” còn có những thành công đặc biệt về phương diện nghệ thuật. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo. Miêu tả phong tục, tập quán, phong cảnh thiên nhiên sinh động. Nghệ thuật kể truyện sinh động, tự nhiên, hấp dẫn. Ngôn ngữ tác phẩm rất tinh tế, mang đậm màu sắc miền núi và thực sự đã để lại dấu ấn của Tô Hoài.

Loading...